0976810969

Cây quế rừng: Dược liệu quý với giá trị kinh tế cao

Cây quế rừng: Dược liệu quý với giá trị kinh tế cao 1

Với 3/4 diện tích lãnh thổ là đồi núi, nước ta có nhiều thuận lợi trong việc phát triển các cây lâu năm, đặc biệt là cây quế rừng. Đây không chỉ là nguồn cung cấp lượng lớn gia vị, dược liệu quý cho sức khỏe cộng động mà còn là hướng phát triển tiềm năng cho người miền núi nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.

Những điều cần biết về cây quế rừng

Cây quế rừng Dược liệu quý với giá trị kinh tế cao 2

Cây quế rừng ở nước ta có tên khoa học là Cinnamomum cassia Nees et Bl., họ Long não (Lauraceae). Ở mỗi vùng miền, cây quế lại có các tên gọi khác nhau như Quế Yên Bái, Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Bì, Mạy quế (Tày)…

Tuy nhiên, dù gọi là gì thì chúng vẫn là loại cây thân gỗ, thường xanh, cao tầm 10-20m. Vỏ cây màu nâu xám, dày, nhẵn ở cây non và sần sùi ở cây già. Lá cây quế rừng thường là phiến lá đơn, hình xuông thuôn dài, mọc so le hoặc gần như đối.

Lúc còn nhỏ cây cần có bóng che để sinh trưởng và phát triển tốt, càng lớn mức độ chịu bóng của cây càng giảm. Sau 3-4 năm trồng thì cây quế rừng hoàn toàn ưa sáng. Bộ rễ cây phát triển mạnh, rễ lớn cắm sâu vào đất, rễ nhỏ lan rộng đan chéo vào nhau nên cây thường chắc khỏe, sinh sống tốt ở các khu vực đồi núi dốc, đất đai cằn cỗi, kém màu mỡ.

 

Chu kỳ sinh trưởng của cây quế rừng khá dài. Từ 8-10 năm tuổi cây mới bắt đầu ra hoa ở các nách lá đầu cành. Hoa ra từng chùm, màu trắng hoặc phớt vàng, nhỏ chỉ cỡ nửa hạt gạo nhưng hương thơm mát dịu, lan xa.

Với những rừng quế thấp thì khoảng 3-5 năm người trồng đã có thể thu hoạch tinh dầu. Tuy nhiên, chất lượng tinh dầu thường tốt, ổn định nhất sau khi cây quế rừng đã trên 15 năm tuổi. Tất cả các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu nhưng phần vỏ luôn chứa hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt tới 4-5%. Tinh dầu quế sau khi chưng cất có màu vàng nhạt với thành phần chủ yếu là Cinnamaldehyde chiếm khoảng 70 – 90%.

Các vùng trồng quế ở nước ta

Cây quế rừng của nước ta thường mọc hỗn giao trong các khu rừng nhiệt đới ẩm tự nhiên. Bên cạnh cây tự mọc, nước ta đã quy hoạch, đinh hướng phát triển thành 4 vùng trồng quế lớn là vùng quế Yên Bái; vùng quế Trà Mi, Trà Bồng; vùng quế Quế Phong, Thường Xuân; vùng quế Quảng Ninh. Mỗi vùng lại mang những sắc thái và đặc trưng riêng biệt. Cụ thể:

Vùng quế Yên Bái

https://sanvatquehuong.com/cay-que/6-tac-dung-cua-que-kho-voi-suc-khoe-ma-ban-can-biet/

 

Vùng quế Yên Bái có những ưu thế tự nhiên nổi bật, rất hợp với cây quế rừng như là vùng rừng núi chia cắt, có độ cao tuyệt đối khoảng 300 – 700m, nhiệt độ trung bình hàng năm là khoảng 22,7 độ C, lượng mưa lớn, độ ẩm cao (có nơi lượng mưa đạt tới 3000 mm; độ ẩm bình quân là 84%).

Do đó, đây là vùng quế có diện tích trồng và sản lượng vỏ quế lớn nhất ở nước ta. Vùng quế Yên Bái tập trung tại 4 huyện Văn Yên, Văn Chấn, Văn Bàn, Trấn Yên. Trong các huyện này có nhiều vùng trồng quế lớn như Đại Sơn, Viễn Sơn, Châu Quế, Xuân Tầm, Phong Dụ… Thậm chí, diện tích trồng quế và sản lượng vỏ có thể chiếm khoảng 70% của cả vùng trồng quế Yên Bái.

Vùng quế Trà Mi, Trà Bồng

Đây cũng là vùng trồng nổi tiếng cả về sản lượng và dược tính của cây quế rừng. Vùng này gồm 2 huyện Trà Mi của tỉnh Quảng Nam và huyện Trà Bồng của tỉnh Quảng Ngãi. Ước tính, vùng quế Trà Mi, Trà Bồng có độ cao khoảng 400 – 500m, nhiệt độ trung bình hàng năm là khoảng  22 độ C, lượng mưa ở mức 2300mm/năm với ẩm độ bình quân là 85%.

Ở vùng này, quế không chỉ là nguồn lợi, nguồn thu nhập mà còn là loại cây thân thuộc, gắn bó với các dân tộc ít người như Cà tu, Cà toong, Bu. Cây quế tập trung ở các xã như Trà Thuỷ (Trà Bồng), Trà Mai (Trà Mi), Trà Quân, Trà Hiệp, Trà Long, Trà giác. Hiện Quảng Nam và Quảng Ngãi cũng đang mở rộng vùng trồng cây quế rừng ra các huyện xung quanh như Sơn Tây, Sơn Hà, Quế sơn, Phước sơn.

Vùng quế Quế Phong, Thường Xuân

 

Vùng quế này có độ cao bình quân khoảng 300 – 700m, kẹp giữa lưu vực sông Chu và sông Hiến nên nguồn nước dồi dào. Hơn thế nữa, lượng mưa của vùng quế Quế Phong, Thường Xuân thường trên 2000 mm/năm, nhiệt độ trung bình ở mức  23,1 độ C, độ ẩm bình quân là 85% nên rất thích hợp với cây quế rừng.

Không phụ sự ưu đãi của thiên nhiên, các huyện Quế Phong, Quỳ Châu của tỉnh Nghệ An và huyện Thường Xuân, Ngọc Lạc của tỉnh Thanh Hóa đã đẩy mạnh phát triển cây quế. Quế ở đây có hàm lượng tinh dầu cao, được đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mán khai thác và chế biến cẩn thận nên rất được lòng người mua, đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho khu vực.

Cây quế rừng: Dược liệu quý với giá trị kinh tế cao 4

Vùng quế Quảng Ninh

Cây quế rừng ở vùng này được gây trồng trên những đai cao từ 200 – 400 m. Lượng mưa đạt mức trên 2300 mm/năm, nhiệt độ bình quân là 23 độ C giúp cây quế ở đây sinh trưởng khá tốt. Hơn thế nữa, các vườn quế ở đây không chỉ cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước mà còn thu nhiều lợi nhuận từ việc xuất khẩu.

Đồng bào Thanh Y, Thanh Phán ở các huyện Hà Cối , Hải Ninh, Đầm Hoà, Tiên Yên và Bình Liêu đã có cuộc sống ổn định và thu nhập đáng kể hơn nhờ cây quế rừng.

Giá trị kinh tế và y học của cây quế rừng

Giá trị kinh tế

Các chế phẩm từ cây quế rừng như tinh dầu quế, vỏ quế khô hay bột quế đang được dùng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm, trong y học cũng như trong cuộc sống thường nhật của con người. Những công dụng đa dạng này đã thúc đẩy người tiêu dùng và đem lại lợi ích kinh tế lớn cho những người trồng, người chế biến sản phẩm.

 

Thực tế cũng cho thấy, cây quế rừng đang là nguồn lợi kinh tế lớn, gắn liền với đời sống của các đồng bào dân tộc ít người ở nước ta như Dao, Thái, H’Mông của tỉnh Yên Bái; Thái, Mường của tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa; Cà tu, Cà toong của tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Thanh Y, Thanh Phán của tỉnh Quảng Ninh.

Không dừng lại ở đó, các chuyên gia kinh tế nhận định những vùng đồi núi của nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi, phù hợp với cây quế rừng nên tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và hướng tới mục tiêu xuất khẩu để thu về lợi ích kinh tế tương xứng.

Cây quế rừng: Dược liệu quý với giá trị kinh tế cao 4

Dược tính và lợi ích cho sức khỏe

Dược tính của cây quế rừng được cả Tây y và Đông y đánh giá cao. Theo Tây y vỏ quế và tinh dầu quế là thuốc tự nhiên có công dụng kích thích khả năng tuần hoàn hô hấp; tăng nhu động ruột, hỗ trợ hệ tiêu hoá, bài tiết; làm giãn mạch; tăng miễn dịch; kháng histamin và kháng khuẩn mạnh mẽ.

Trong khi đó, Đông y cho rằng “Sâm – Nhung – Quế – Phụ” là 4 vị thuốc hàng đầu cho sức khỏe. Chúng vừa có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh vừa có khả năng bồi bổ sức khỏe hiệu quả. Riêng quế thường được dùng làm thuốc cho các bệnh nhân cơ thể hư hàn, đau bụng, tiêu hóa kém, hôn mê, mạch chậm nhỏ, đau lưng, mỏi gối, ho hen, bế kinh…

Ngoài ra, hàng loạt nghiên cứu y học hiện đại đã chứng minh quế có nhiều công dụng tuyệt vời cho sức khỏe như: Giảm lượng nồng độ glucose trong máu và hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường loại 2; giảm cholesterol và bảo vệ hệ tim mạch; hỗ trợ tiêu hóa, duy trì hệ tiêu hóa khỏe mạnh; hỗ trợ chữa trị cảm lạnh thông thường, tốt cho người thể hàn; giảm đau nhức do viêm khớp; tăng cường trí nhớ và năng lực nhận thức; hỗ trợ điều trị đau răng, giúp hơi thở thơm tho; hỗ trợ điều trị chứng đau đầu và đau nửa đầu…

Trên đây là những điều cần biết về cây quế rừng. Hy vọng, những thông tin này sẽ hữu ích với bạn và người thân trong gia đình.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *